Điều phối, quản lý & sử dụng viện trợ cho lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam

HIV/AIDSGiới thiệu
Viện trợ của nước ngoài dành cho Việt Nam trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS đã đóng góp đáng kể trong việc ngăn chặn và đẩy lùi nạn dịch này. Tuy nhiên, trong khi các nguồn lực còn chưa đáp ứng được với nhu cầu thì việc quản lý và sử dụng các nguồn lực còn nhiều bất cập dẫn đến những hạn chế rõ rệt về hiệu quả viện trợ và đầu tư. Nghiên cứu đánh giá độc lập này được thực hiện để chuẩn bị cho hội thảo về “Điều phối viện trợ nước ngoài cho lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS”. Các nhận định, đánh giá công tác quản lý, điều phối viện trợ chủ yếu được dựa trên các văn bản chính thức của Chính phủ trong lĩnh vực này. Báo cáo nghiên cứu được thực hiện vào tháng 11 năm 2006.

Mục tiêu
Mục tiêu của nghiên cứu: 1) tìm hiểu tình hình tiếp nhận, phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí viện trợ nước ngoài cho phòng chống HIV/AIDS từ 2001 – 2005, 2) đánh giá năng lực về tổ chức, chính sách và quản lý cơ chế điều phối viện trợ; và 3) đưa ra những khuyến nghị về chính sách, cơ chế và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn viện trợ HIV/AIDS trong tương lai. 

Phương pháp
Nghiên cứu sử dụng phối hợp cả phương pháp định lượng và định tính. Ba phiếu phỏng vấn được thiết kế cho ba nhóm đối tượng: 64 tỉnh và thành phố trên toàn quốc; 17 Bộ, các cơ quan và các tổ chức đại chúng tại tuyến trung ương và 34 nhà tài trợ ODA và các tổ chức phi chính phủ đã hỗ trợ cho chương trình phòng chống HIV/AIDS tại Việt nam. Các cuộc phỏng vấn sâu cũng đã được thực hiện với đại diện của một số nhà tài trợ tại Hà nội và các lãnh đạo của các Vụ chức năng và các cơ quan đóng vai trò chính trong công tác điều phối và quản lý viện trợ nước ngoài cho chương trình phòng chống HIV/AIDS. Nghiên cứu cũng đã sử dụng và tổng hợp một số tài liệu có liên quan.

Kết quả
Tổng ngân sách đầu tư trong nước cho chương trình phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2001-2005 khoảng 23 triệu đô-la Mỹ, tuy còn ở mức thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong Chiến lược Quốc gia Phòng chống HIV/AIDS nhưng cũng chiếm vị trí tương đối cao so với các chương trình y tế Quốc gia khác. Tổng ngân sách viện trợ cho chương trình PC HIV/AIDS ở Việt Nam cho giai đoạn 2001-2005 là khoảng 69 triệu đô-la Mỹ. Nếu tính đầy đủ các nguồn viện trợ nhỏ lẻ khác và những nguồn từ bên ngoài Việt Nam, con số thực tế có thể lên tới khoảng 80 triệu.
                                                                                                                           
Công tác điều phối và quản lý viện trợ nước ngoài cho công tác phòng chống HIV/AIDS còn nhiều vấn đề vấn đề cần thay đổi và cải thiện. Hướng dẫn chuẩn về qui trình xây dựng các chương trình/dự án vẫn chưa được xây dựng. Sự tham gia của các cơ quan Việt nam vào quá trình thiết kế các chương trình vẫn chưa sâu sắc. Một số các qui định hướng dẫn về quản lý viện trợ nước ngoài thiếu thống nhất và không chi tiết về các yêu cầu thời gian, trách nhiệm của từng cơ quan Chính phủ. Công tác giám sát và đánh giá chưa được quan tâm đúng mức, chưa có các công cụ và chỉ số để đo lường tính hiệu quả của các Chương trình do nước ngoài tài trợ. Việc phân bổ ngân sách chưa hợp lý, gần một nửa được phân cho tuyến trung ương trong khi hầu hết các hoạt động lại thực hiện ở trung ương. Cán bộ làm công tác quản lý viện trợ nước ngoài tại các cơ quan chính phủ và cả các tổ chức quốc tế chưa hiểu biết đầy đủ về các văn bản pháp quy quan trọng về quản lý viện trợ của Chính phủ Việt Nam. Thiếu sự chia sẻ thường xuyên giữa các cơ quan và tổ chức quản lý nhà nước với các các nhà tài trợ đã ảnh hưởng đến quy hoạch viện trợ dài hạn và năng lực chỉ đạo của chính phủ tới các dự án viện trợ.

Hạn chế: Thiếu cơ sở dữ liệu chính thức, rất ít tài liệu tham khảo về vấn đề tiếp nhận, quản lý viện trợ nước ngoài cho công tác phòng chống HIV/AIDS đã hạn chế khả năng so sánh. Thêm nữa là sự chận trễ trong việc trả lời câu hỏi và nhiều phiếu phỏng vấn không được điền đầy đủ, do vậy, một số phương pháp gián tiếp để ước tính cũng đã được áp dụng để phân tích các số liệu

Kết luận
Từ các hạn chế và yếu kém đã phát hiện, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các khuyến nghị để cải thiện công tác này. Trước hết cần hoàn thiện các quy định về quản lý, điều phối và sử dụng viện trợ, điều chỉnh các bất cập sao cho có hệ thống quy chuẩn, mẫu chuẩn thống nhất. Các địa phương, ban ngành cần tăng cường tính chủ động và năng lực trong việc vận động, đàm phán ký kết viện trợ cho phòng chống HIV. Bộ KHĐT, Bộ Tài chính và Bộ Y tế cần phối hợp để khắc phục tình trạng chồng chéo bất cập, đi đôi với việc xây dựng một cơ chế quản lý giám sát đánh giá nhằm tăng tính hiệu quả của viện trợ nước ngoài. Cán bộ làm công tác kế hoạch phòng chống HIV của cả cơ quan Việt Nam và cơ quan nước ngoài cần được tham gia các khoá đào tạo chung về hệ thống và quy định quản lý viện trợ, quản lý chương trình, dự án của cả hai bên. Cuối cùng, cần tiến hành một số các nghiên cứu chuyên biệt cho mỗi lĩnh vực làm cơ sở cải thiện tốt công tác công tác điều phối và quản lý viện trợ nước ngoài.

Tới đầu trang

Nhiệm vụ của CCRD là góp phần vào sự phát triển và công bằng của các chương trình chăm sóc sức khỏe và phát triển xã hội cho người dân Việt Nam thông qua cách tiếp cận nâng cao kiến thức.

Finding Ourselves