Khảo sát thực trạng bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, u vú, ung thư cổ tử cung của phụ nữ Việt Nam

Giới thiệu
Báo cáo nghiên cứu được thực hiện vào tháng 11 năm 2004 nhằm cung cấp dữ liệu thiết yếu để xây dựng các chính sách y tế và chiến lược về quản lý và phòng ngừa nhiễm khuẩn đường sinh sản (NKĐSS), u vú và ung thư cổ tử cung của phụ nữ Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là: (1) xác định tỷ lệ hiện mắc bệnh NKĐSS,u vú và ung thư cổ tử cung ở phụ nữ độ tuổi từ 15 đến 55; (2)  tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi hiện nay của phụ nữ Việt Nam về bệnh NKĐSS, u vú và ung thư cổ tử cung cũng như đánh giá chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đối với những bệnh này; (3) kiến nghị các giải pháp can thiệp phù hợp.

Tài liệu và phương pháp
Phương pháp nghiên cứ điều tra dịch tễ học cắt ngang được thực hiện ở 8880 phụ nữ đã kết hôn sống ở 16 quận của 8 thị trấn/ thị xã tại 8 tỉnh/thành phố. 23 nhân viên y tế chuyên về sản khoa, phụ khoa và kế hoạch hóa gia đình tại 24 cơ sở y tế cũng tham gia vào nghiên cứu này.
Thông tin được thu thập từ điều tra bảng hỏi, các cuộc phỏng vấn sâu và các cuộc thảo luận nhóm. Hệ thống bảng kiểm cũng được dùng để đánh giá tình hình thực tế cơ sở vật chất của các cơ sở y tế và thực hành của nhân viên y tế làm việc tại các cơ sở này.

Kết quả
Tỷ lệ chung về nhiễm khuẩn đường sinh sản, ung thư cổ tử cung và u vú được nghiên cứu này đưa ra, theo kết quả tổng hợp trên lâm sàng và cận lâm sàng,  lần lượt theo thứ tự là  khoảng 60%, 3.4% và 2.4%. Tỷ lệ hiện mắc của NKĐSS và u vú có sự khác biệt giữa các tỉnh. Không có mối liên hệ giữa ung thư cổ tử cung với nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, việc sử dụng biện pháp tránh thai và các nhân tố khác cũng đã được chỉ ra trong nghiên cứu.
60% các đối tượng nghiên cứu nhận thức được về dấu hiệu hoặc triệu chứng của NKĐSS trong khi 31% trong số họ không có kiến thức về các nguyên nhân dẫn tới NKĐSS.  Chỉ có 1% các đối tượng biết về ung thư cổ tử cung.
Việc tư vấn về các bệnh NKĐSS hay các bệnh lây lan qua đường tình dục được thực hiện tại 14/24 cơ sở y tế nhưng chỉ có 10/14 cơ sở y tế có khả năng chuẩn đoán và chữa trị những bệnh này. Tư vấn về HIV/AIDS được thực hiện ở 16/24 cơ sở, tuy nhiên không cơ sở nào có khả năng chuẩn đoán bệnh. 27% của đội ngũ cán bộ y tế là nữ hộ sinh trung cấp và khoảng 63% trong số họ được đào tạo về phụ khoa và nhi khoa.

Kết luận
Đây là nghiên cứu toàn diện đầu tiên về chủ đề NKĐSS ở phụ nữ Việt Nam với qui mô lớn cả về địa bàn và cỡ mẫu nghiên cứu.  Các kết quả của nghiên cứu đã đại diện cho toàn bộ dân. Riêng về nguy cơ bệnh ung thư cổ tử cung có thể chưa đại diện được cho toàn dân do số lượng đối tượng đã được sàng lọc ung thư cổ tử cung trong nghiên cứu còn hạn chế.
Nghiên cứu cũng kiến nghị các giải pháp phù hợp bao gồm nâng cao công tác đào tạo và truyền thông, tăng cường chính sách y tế và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.

Rate this post

Bài viết cùng chủ đề