Báo cáo đánh giá cuối dự án “Hỗ trợ sản xuất và phát sóng chương trình giải trí - giáo dục nhằm thay đổi hành vi về HIV/AIDS”

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Với sự hỗ trợ tài chính của chính phủ Đan Mạch, hỗ trợ kỹ thuật của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNFPA) và Trung tâm Truyền thông Dân số Hoa Kỳ (PMC), Đài Tiếng Nói Việt Nam đã thực hiện dự án “Hỗ trợ sản xuất và phát sóng chương trình giải trí - giáo dục nhằm thay đổi hành vi về HIV/AIDS” (gọi tắt là Dự án VNM7R105). Mục tiêu của dự án VNM7R105 là thông qua chương trình giải trí giáo dục để hướng thính giả tới sự thay đổi hành vi tích cực, tập trung vào một số chủ đề: HIV/AIDS, sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình (SKSS/KHHGĐ), bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình tại Việt Nam. Tập kịch đầu tiên được chính thức phát sóng vào tháng 4 năm 2008 trên Đài Tiếng nói Việt Nam  và toàn bộ 104 tập đã được kết thúc vào tháng 3 năm 2010 với thời lượng 1 tập mỗi tuần và phát lại 3 lần trong tuần trên các kênh khác nhau.

Nghiên cứu đánh giá  sẽ thu thập dữ liệu về kinh tế-xã hội, nhân khẩu học, thông tin về HIV/AIDS, SKSS/KHHGĐ  nhằm đo lường, mô tả và phân tích đặc điểm, thái độ của thính giả đối với kịch Khát Vọng Sống cũng như kiến thức, thái độ và hành vi của thính giả về HIV/AIDS, SKSS/KHHGĐ và bình đẳng giới.

Cụ thể:
1. Mô tả các đặc điểm của nhóm thính giả có liên quan mật thiết với việc tiếp cận sử dụng Đài phát thanh và các phương tiện truyền thông đại chúng khác
2. Mô tả các ý kiến đánh giá của thính giả với kịch Khát Vọng Sống.
3. Đo lường sự thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi của thính giả nghe kịch so với thính giả không nghe kịch về những vấn đề sức khỏe và xã hội được đề cập đến trong vở kịch.
4. Xác định các yếu tố thành công cũng như hạn chế chính của toàn bộ quá trình thực hiện triển khai xây dựng, sản xuất và phát sóng vở kịch.


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cùng với việc mô tả đánh giá của thính giả về vở kịch, để đo lường tác động của vở kịch đối với sự thay đổi hành vi và thái độ của thính giả, đánh giá cuối kỳ được tiến hành dựa trên việc kiểm định các giả thuyết sau:

- Giả thuyết H1: Kiến thức về HIV/AIDS, SKSS/KHHGĐ, bình đẳng giới và các vấn đề khác liên quan đến sức khỏe được đề cập đến trong kịch “Khát Vọng Sống” của thính giả nghe kịch tốt hơn so với những thính giả không nghe vở kịch này.
- Giả thuyết H2: Lòng tin vào khả năng bản thân có thể thực hiện hành vi tích cực về phòng chống HIV/AIDS, SKSS/KHHGĐ và bình đẳng giới của thính giả nghe kịch “Khát Vọng Sống” cao hơn so với những người không nghe kịch.
- Giả thuyết H3: Tỷ lệ thính giả nghe kịch “Khát Vọng Sống” có thực hiện các hành vi tích cực  liên quan đến HIV/AIDS, SKSS/KHHGĐ, bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình cao hơn so với thính giả không nghe kịch.

Thiết kế nghiên cứu
Điều tra đánh giá cuối kỳ chủ yếu dựa trên thiết kế của cuộc điều tra cơ bản để đảm bảo tính nhất quán và có thể so sánh các chỉ số của dự án trước và sau khi can thiệp. Bên cạnh đó, thiết kế điều tra đánh giá cuối kỳ cũng được xây dựng dựa trên những góp ý của Ban Quản lý Dự án, Trung tâm Truyền thông Dân số Hoa Kỳ (PMC) và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNFPA).

Địa bàn điều tra
Do hạn chế về kinh phí và thời gian, nhóm nghiên cứu chỉ lựa chọn điều tra 4 trong 6 tỉnh đã tiến hành điều tra cơ bản. Các tỉnh này cũng đại diện cho 3 vùng địa lý của Việt Nam:

    •    Lào Cai và Quảng Ninh: đại diện cho khu vực phía Bắc Việt Nam
    •    Bình Định: đại diện cho khu vực miền Trung Việt Nam
    •    Cần Thơ: đại diện cho khu vực Nam Bộ Việt Nam

Trong số 4 tỉnh được lựa chọn đánh giá cuối kỳ, Quảng Ninh, Bình Định và Cần Thơ  đã tham gia vào hoạt động 8 của dự án VNM7R105: “Nghiên cứu giám sát để xác định và xử lý những vấn đề nảy sinh” trong quá trình phát sóng kịch truyền thanh   “Khát Vọng Sống”.  do Trung tâm Nghiên cứu Phát triên Y tế Cộng đồng (CCRD) thực hiện trên các nhóm đối tượng đích tại các tỉnh này trong giai đoạn 2008-2009.   

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của điều tra cuối kỳ là những người trong độ tuổi từ 15-49 , đang sống tại địa phương trong kthời gian  thực hiện cuộc điều tra. Các đối tượng nằm trong độ tuổi này nhưng có vấn đề về tâm thần, những người khiếm thính hoặc những người từ chối tham gia phỏng vấn sẽ không  tham gia vào nghiên cứu.

Lựa chọn mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu đã được trình bày trong bản đề xuất kỹ thuật, cỡ mẫu ước tính cho đánh giá cuối kỳ là 1.095 người. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu quyết định thêm khoảng 10% tổng số mẫu đã được lựa chọn vào mẫu cuối cùng để dự phòng trường hợp sai sót hoặc thất thoát phiếu điều tra. Vì vậy, cỡ mẫu cho đánh giá cuối kỳ là 1.200 trường hợp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kịch truyền thanh nhiều kỳ “Khát Vọng Sống" là vở kịch giải trí, giáo dục lần đầu tiên được xây dựng và phát sóng tại Việt Nam, áp dụng một phương pháp hiện đại đã áp dụng thành công tại nhièu nước trong truyền thông giáo dục sức khoẻ hướng tới thay đổi hành vi.

Trước hết, kết quả đánh giá cho thấy xu hướng tăng lên của việc tiếp cận và sử dụng truyền hình, internet, điện thoại di dộng và ngược lại là xu hướng giảm của các kênh truyền thống hơn như đài phát thanh và báo in, cũng như sự thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Xu hướng này cũng khá đồng nhất với kết quả của một số báo cáo nghiên cứu khác mới được công bố ở Việt Nam, như báo cáo “Phân tích tình hình thanh niên Việt Nam” (SAVY 2, 2010), hoặc báo cáo của TNS về tiếp cận và sử dụng phương tiện truyền thông tại một số tỉnh/thành phố.

Đối với kết quả đánh giá cụ thể của vở kịch “Khát Vọng Sống”, kết quả cho thấy tuy tình hình chung đã có những tác động tới lượng thính giả của Đài nói chung và của kịch nói riêng, nhưng các kết quả từ cuộc đánh giá này cho thấy đây là một chương trình khá thành công trên nhiều phương diện:Tính hấp dẫn của vở kịch,Tác động giáo dục của vở kịch,Chiến lược quảng bá và phát sóng.

Tới đầu trang