Nghiên cứu thực trạng hệ thống tổ chức phòng chống AIDS của Việt Nam

Giới thiệu
Nhằm đạt được các mục tiêu Thiên niên kỷ, nhiều hoạt động quan trọng đã được thực hiện để xác định và khắc phục các khó khăn và tồn tại của chương trình phòng chống HIV/AIDS. Một trong những hoạt động này là tiến hành nghiên cứu đánh giá hệ thống tổ chức phòng chống HIV/AIDS của Việt nam tại tuyến trung ương và tuyến tỉnh để lập kế hoạch chi tiết cải tổ hệ thống tổ chức của Chương trình.  Báo cáo nghiên cứu được thực hiện vào tháng 8 năm 2003.

Mục tiêu
Thu thập và phân tích thông tin về cấu trúc tổ chức của hệ thống phòng chống HIV vào năm 2003 và đề xuất các mô hình tổ chức phù hợp và khả thi để góp phần đối phó hiệu quả với dịch HIV/AIDS tại Việt Nam.

Phương pháp
Đây là nghiên cứu mô tả tác nghiệp, chủ yếu sử dụng nghiên cứu định tính và kết hợp với phương pháp định lượng. 11 thảo luận nhóm và 46 cuộc phỏng vấn sâu đã được tiến hành để thu thập các thông tin về hệ thống tổ chức, quản lý và vận hành. Bảng hỏi có cấu trúc đã được gửi tới 61 tỉnh/thành phố để thu thập số liệu về nhân sự, đào tạo, giám sát, lập kế hoạch và các vấn đề về tài chính. Năm tỉnh và thành phố cũng lựa chọn để nghiên cứu sâu về mô hình cấu trúc và tổ chức là Hà Nội, Lạng Sơn, Hải Dương, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh. Nhóm nghiên cứu cũng đã phân tích mô hình tổ chức của chương trình phòng chống Lao quốc gia và chương trình Dân số KHHGĐ Việt Nam, chỉ ra ưu nhược điểm của các chương  trình và so sánh điểm giống và khác biệt với Chương trình Phòng chống HIV/AIDS.
Các đối tượng đã tham gia vào cuộc đánh giá là: Hệ thống tổ chức phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam ở tất cả các tuyến; các bộ/ngành liên quan như Bộ LĐ-TB-XH, Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ, Bộ Y tế và một số cơ quan thành viên khác: Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Những phát hiện chính
Kết quả đã cho thấy các yếu tố cơ bản và cần thiết để triển khai các chương trình hiệu quả và bền vững đều chưa được thiết lập tại thời điểm nghiên cứu. Sự bất cập và thiếu ổn định về tổ chức cộng với khó khăn về cán bộ là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực của chương trình trong hầu hết các lĩnh vực: đường hướng chiến lược, dự báo về tình hình dịch, mục tiêu và các chỉ số giám sát và đánh giá cho chương trình Quốc gia vẫn chưa được xác định rõ ràng.
Hệ thống tổ chức phòng chống HIV/AIDS luôn thay đổi và không thống nhất ở tuyến tỉnh đã gây khó khăn cho công tác quản lý và chỉ đạo chương trình. Một số văn bản pháp qui của trung ương ban hành về tổ chức thiếu chính xác, không kịp thời, nhiều trường hợp thiếu thống nhất và thậm chí trái ngược nhau, do vậy việc xây dựng tổ chức và thực hiện chương trình tại tuyến tỉnh theo các quyết định này gặp rất nhiều vướng mắc.
Nhân lực làm việc trong hệ thống HIV/AIDS không đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và năng lực chuyên môn và quản lý. Thêm vào đó, lãnh đạo và các cán bộ chủ chốt tại các tuyến làm kiêm nhiệm là nguyên nhân dẫn đến sự chồng chéo, thiếu thống nhất và kém hiệu quả trong việc quản lý và thực hiện chương trình. Sự phối hợp và hợp tác giữa ba Bộ: Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội mang nặng tính hình thức từ trung ương đến địa phương.

Kết luận
Nghiên cứu đã đề xuất 4 phương án cho mô hình tổ chức phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam, chỉ rõ ưu nhược điểm của từng mô hình, đồng thời nhấn mạnh vai trò và sự cần thiết của việc:  1) xây dựng Chiến lược phòng chống AIDS và Kế hoạch Tổng thể về phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam, 2) tăng cường phối hợp đa ngành và sự tham gia của các tổ chức xã hội, 3) thống nhất một đầu mối tại Trung ương để có sự chỉ đạo thống nhất và 4) là nâng cao năng lực quản lý của hệ thống bằng các giải pháp cụ thể.

Tới đầu trang